TẬP SAN PHẬT HỌC TỊNH QUANG: TỪ SỐ 1 (2006) - ĐẾN SỐ 30 (2016)

TẬP SAN PHẬT HỌC TỊNH QUANG: TỪ SỐ 1 (2006) - ĐẾN SỐ 30 (2016)
TẬP SAN PHẬT HỌC TỊNH QUANG: TỪ SỐ 1 (2006) - ĐẾN SỐ 30 (2016)

Tuesday, 15 October 2013

*** CHỮ TÂM QUA LỜI CHƯ TỔ DẠY

Tôi mong tất cả Tăng Ni là người lãnh đạo Phật tử, quí vị đi và dẫn dắt Phật tử cùng đi đúng theo con đường đức Phật đã đi.
Đừng đi sai, đừng đi lệch, uổng một đời tu, không biết mai kia có gặp lại Phật pháp không?
Làm sao chúng ta đứng vững và luôn luôn không bị những luồng gió nhơ nhớp của thế gian
làm lem luốc,
phải trong sạch vững vàng trên con đường đạo. Đó là chỗ tha thiết mong mỏi của tôi.
HT Thích Thanh Từ
lllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllllll

TỲ KHƯU THÍCH CHÂNTUỆ

 CHỮ TÂM QUA LỜI DẠY CHƯ TỔ
1) Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy:
 "Tâm thông thì thuyết thông".
Hành giả nào thực tâm tu học, không phân biệt tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, tâm trí thông suốt, đạt được đến đâu, thuyết giảng thông suốt, đến mức độ đó, lợi ích chúng sanh. Ví như trước có học hành nghiêm túc, chân tu thực học, sau đó mới có thể làm thầy chỉ dạy người khác. 
* *
 
2) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:
 "Tâm địa nhược không, tuệ nhựt tự chiếu". 
Nghĩa là: Khi tâm địa, hay tâm thức, hoàn toàn trống rỗng, lặng lẽ, lẵng lặng, thanh tịnh, không còn chứa chấp những vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm nào cả, thì trí tuệ bát nhã tự bừng sáng.  Cũng như mây đen tan biến hết, tức là phiền não không còn nữa, tâm thức không tịch, thì mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng.  Tâm được thanh tịnh thì cảnh vật cũng thanh tịnh, chúng sanh chung quanh cũng được bình yên. 
Một căn phòng tăm tối ngàn đời, nhưng chỉ cần bật điện một cái, hay đem vào một ngọn đèn, thì liền sáng tỏ ngay, đâu cần đợi ngàn năm sau nữa, mới chịu sáng lại.  Cũng vậy, khi con người chịu mồi ngọn đuốc trí tuệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của chư Phật, chư Tổ, thì ngọn đuốc trí tuệ của mình cũng bừng sáng lên ngay.  Giây phút bừng sáng đó, trong thiền tông, gọi là: ngộ đạo. 
* * *
3) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:
 "Tâm cảnh không dính nhau là: giải thoát". 
Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm không dính mắc, thì không phiền não.  Không phiền não tức là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản! Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn. Tâm không phan duyên theo cảnh trần là: giải thoát! 
* * 
4) Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông có dạy:
 "Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền". 
Nghĩa là: Khi nào đối trước cảnh trần, tâm không còn dính mắc, không khởi bất cứ tâm niệm gì, trong kinh sách gọi là: vô tâm vô niệm, tức là không còn khởi tâm tham sân si, thản nhiên trước sự thịnh suy, thăng trầm của đời sống, bình thản trước những lời khen tiếng chê, vượt qua được sóng gió của cuộc đời, tức nhiên tâm sẽ được khinh an, tự tại, đó là: thiền định niết bàn 
Con người sống trên đời, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thường xuyên tiếp xúc với các cảnh trần: hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm và ký ức.  Khi con người tiếp xúc với các trần cảnh, mà bị dính mắc, tức là: trong tâm khởi niệm thương hay ghét, khen hay chê, ưa thích hay tức giận, đều gọi là: loạn tâm vọng tâm.  Không khởi bất cứ tâm niệm nào cả, gọi là: định tâm, hay: tâm thiền định.  Đây chính là cốt tủy, là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy. 
* * 
5) Chư Tổ có dạy:
"Lục căn tiếp xúc lục trần,
 không sanh lục thức, là: giải thoát". 
Nghĩa là: Thường ngày, khi sống trong cõi đời này, sáu căn tiếp xúc với sáu trần, mà không sanh tâm dính mắc, không sanh tâm loạn động vì tham sân si, trong kinh sách gọi là: lục thức hay lục tặc, thì chúng ta sẽ được tự tại, giải thoát ngay hiện đời.  Mắt trông thấy sắc, tai nghe thấy tiếng, mũi ngửi biết mùi, lưỡi nếm biết vị, nhưng mà đừng khởi niệm thương hay ghét, thích hay không thích, nếu như có khởi niệm rồi thì cũng đừng theo.  Như vậy chúng ta đâu có gì gọi là phiền não, khổ đau nữa, tức là được giải thoát. 
* * 
6) Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất có dạy:
"Tức Tâm thị Phật ",
hay:  "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật". 
Nghĩa là: Tâm của chúng ta chính là Phật, Phật chính là tâm của chúng ta.  Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ bất thiện, lợi mình hại người, tức là tam nghiệp không thanh tịnh, tâm Phật ẩn mất.  Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ hiền thiện, lợi mình lợi người, tức là tam nghiệp thanh tịnh, tâm Phật hiển hiện.  Thực là đơn giản! 

 
Vì không chịu học hiểu giáo lý, biết bao nhiêu người gọi là Phật Tử, tại gia hay xuất gia, tin theo đạo Phật, không khác gì ngoại đạo.  Ngoại đạo nghĩa là: tuy vẫn thờ tượng Phật, tại gia hay là tại chùa, nhưng vẫn thường ngày ngoài tâm cầu đạo, chỉ biết lo chuyện cúng kiến lễ nghi, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, cầu khẩn van xin, cầu nguyện khấn vái, đủ thứ mọi điều, nhưng không hiểu không biết Phật ở nơi đâu? 
Ngoài tâm không có Phật, cầu Phật ngoài tâm, là nghĩa lý gì?  

Phật không ở trong chùa, không ở trong các pho tượng, bằng vàng hay bạc, bằng đồng hay cây.  Phật không ở trên mây, trên non hay trên núi. Phật không ở dưới suối, dưới sông hay dưới biển. Chúng ta không cần phải đi đến xứ Ấn Độ xa xôi, hay bất cứ nơi đâu, mới thấy được Phật.  Phật đang ở ngay trong tâm của chúng ta. 
 
Khi thấy người nào vào chùa, van xin cầu khẩn chư Phật ban cho điều này điều kia, chư Tổ thường dạy: Ngươi cõng Phật đi tìm Phật!  Nghĩa là: chư Phật đã bỏ những điều phiền não, chỉ dạy pháp môn tu tập để giải thoát, để thành Phật, chúng ta không chịu tu học, để tự mình thoát ly phiền não khổ đau, trái lại chúng ta van xin cầu khẩn những điều phiền não, chẳng hạn như: tiền tài, danh vọng, ước gì được nấy, nhứt bổn triệu lợi, buôn may bán đắt, thi đâu đậu đó, bình yên vô sự, nhà cao cửa rộng, điều cuối cùng là: cầu vãng sanh cực lạc quốc! 
 Cầu không được, khổ là cái chắc! 
 Cầu bất đắc, tức khổ không sai! 
* *
7) Chư Tổ có dạy:
  "Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt". 
Nghĩa là: Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không khác, không sai biệt. Trong kinh nhựt tụng có câu: Năng lễ sở lễ tánh không tịch, nghĩa là: Phật và chúng sanh tánh thường rỗng lặng. Tâm của người nào không chất chứa bất cứ hình ảnh của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường, hoàn toàn trống rỗng, tĩnh lặng, tâm người đó chính là tâm Phật. 
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
"Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh", nghĩa là: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tâm, chính nghĩa như vậy. 
* *
8) Chư Tổ có dạy:
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là: Khi nào ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh hoàn toàn, tâm của chúng ta đồng với tâm chư Phật ở tây phương.  Biết sống với bản tâm thanh tịnh thường hằng, ngay hiện tại, đó là cảnh giới niết bàn an lạc. Nói một cách khác: khi ba nghiệp chưa thanh tịnh, con người sống đau khổ trong tam giới, khi ba nghiệp hằng thanh tịnh, con người sống an lạc trong niết bàn, như khi Đức Phật còn tại thế, chứ không phải đợi sau khi chết mới vãng sanh tây phương. 

Mỗi người đều có một kho tàng tâm thức, chứa đầy những hình ảnh âm thanh từ ngày xưa cho đến bây giờ, những chuyện thị phi phải quấy, những định kiến đúng sai, những người thương kẻ ghét, những lời nói dễ nghe khó nghe, do tam nghiệp thân khẩu ý gây ra, cho nên tâm trạng lúc nào cũng bất an, chưa được thanh tịnh, luôn luôn phiền não khổ đau và trầm luân sanh tử.  Nếu phát tâm tu tập, chúng ta phải cố gắng dọn sạch cái kho tàng tâm thức của mình, mới có thể giác ngộ được chân lý, giải thoát khỏi tam giới khổ đau.  Kho tàng tâm thức đã được dọn sạch, trống trơn, trong kinh sách gọi là: Như Lai Tạng. 
* *
9) Chư Tổ cũng có dạy:
 "Nội cần khắc niệm chi công". 
"Ngoại hoằng bất tranh chi đức". 
Nghĩa là: Bên trong tâm, người tu tập cần khắc chế tạp niệm, tức là không theo các tâm niệm hổn tạp, lăng xăng lộn xộn, đó mới chính thực là: công phu tu tập. Bên ngoài, người tu tập giữ gìn đức độ bằng cách không tranh cãi, nói năng luôn luôn đúng chánh pháp, im lặng cũng luôn luôn đúng chánh pháp. 
* * 
10) Chư Tổ có dạy:
Tác vô nghĩa sự. Thị cuồng loạn tâm.
Tác hữu nghĩa sự. Thị tỉnh ngộ tâm.
 Nghĩa là:
Làm việc vô nghĩa: đem lại phiền não khổ đau, lợi mình hại người.  Là tâm cuồng loạn.
 Làm việc có nghĩa: đem lại an lạc hạnh phúc, cho mình và cho người.  Là tâm tỉnh ngộ. 
* * *


Tóm lại, trên cuộc đời này, dù giàu sang hay nghèo khó, dù trí thức hay bình dân, dù nam phụ lão ấu, dù da trắng da đen hay da màu, dù vua chúa hay dân chúng, nói chung, bất cứ người nào cũng có hai thứ bệnh: thân bệnh và tâm bệnh.  Đối với thân bệnh, chẳng hạn như đau răng, nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm, đau tim gan tì phế thận, con người cần tới khả năng trị bệnh của các vị thầy thuốc, dù đông y hay tây y.  Để phòng ngừa thân bệnh, có những phương pháp tập thể dục, những cách dưỡng sinh khoa học, những chế độ ăn uống thích ứng với từng lứa tuổi, và tình trạng sức khỏe cá nhân. 
 
Còn đối với tâm bệnh, chẳng hạn như tâm tham sân si, tâm ganh tị đố kỵ, tâm hơn thua phải quấy, tâm thành kiến cố chấp, tâm lo âu sợ sệt, tâm loạn động bất an, con người cần phải tìm hiểu chánh pháp và áp dụng trong đời sống hằng ngày.  Ngay đến Đức Phật là bậc toàn giác, trí tuệ sáng ngời, phước báu vô biên,  vẫn thân bệnh, nhưng KHÔNG phiền não và khổ đau, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, trong mọi hoàn cảnh.  Nói một cách khác: Đức Phật không có tâm bệnh.  Bất cứ ai sống trên đời này, còn mang thân xác con người, là còn khổ vì thân bệnh, nếu không giác ngộ được chân lý vi diệu nhiệm mầu.  Các vị giáo chủ của các tôn giáo cũng có thân bệnh và rồi cũng chết như mọi người mà thôi.
 
Khi đứng trong một căn phòng, cầm đèn rọi ra bên ngoài, thì mình sẽ thấy rõ, biết rõ cảnh vật bên ngoài, còn bên trong căn phòng thì tối thui.  Ngược lại, khi xoay ngọn đèn vào bên trong căn phòng, dĩ nhiên căn phòng sáng tỏ, một cách rõ ràng, con người có thể thấy mọi thứ đồ đạc và đi đứng không bị vấp ngã.  Cũng vậy, khi phóng tâm quán sát bên ngoài, con người có thể phê phán người này đúng, người kia sai, chuyện này phải, chuyện kia quấy. 
 
Con người có thể biết chuyện khắp năm châu bốn biển, chuyện thời sự khắp thế giới, chuyện văn chương kim cổ đông tây, muôn sự mọi việc bên ngoài đều biết rõ ràng rành mạch.  Trái lại, chuyện bên trong tâm trí của chính mình thì mù tịt, chẳng biết tí gì cả!  Mình thực sự là ai, chẳng biết!  Mình thực sự đang muốn gì, chẳng biết!  Mình thực sự đang làm thiện hay bất thiện, chẳng biết!  Mình thực sự đang nghĩ thiện hay bất thiện, chẳng biết!  Mình thực sự sống trên đời để làm gì, chẳng biết!  Mình sau này sẽ đi về đâu, nếu vẫn cứ tạo tội tạo nghiệp hằng ngày, chẳng biết!  Chuyện gì thuộc về bên trong, thuộc về nội tâm, chúng ta cũng đều chẳng biết!  Cái tâm ý điên đảo đảo điên, cái vọng tưởng lăng xăng lộn xộn, tạo tội tạo nghiệp này, là nguyên nhân chính dẫn chúng ta vào vòng sanh tử luân hồi. 
 
Làm sao hàng phục và an trụ được cái tâm ý này chính là trọng tâm của đạo Phật.  Điều quan trọng trong đạo Phật chính là:
Tâm trí có dính mắc hay không dính mắc cảnh trần.
Nếu tâm dính mắc, gọi là: tâm phan duyên, tâm loạn động. 
Nếu tâm không dính mắc, chính là: bản tâm thanh tịnh vậy. 

cutranlacdao@yahoo.com

CƯ SĨ CHÍNH TRỰC 

Trong tâm khởi niệm,
nếu giác kịp thời,
liền biết không theo,
đó là: chân tâm.
Trong tâm khởi niệm,
nếu còn mê muội,
không giác kịp thời,
liền theo niệm đó,
 trở thành: vọng tâm. 
Cũng ví như là: 
Khi có gió thổi,
 mặt biển nổi sóng,
 gọi là biển động,
 ví như cái tâm
lăng xăng lộn xộn.
 Mặc dù gió thổi,
 mặt biển vẫn yên,
là biển thái bình,
cũng ví như là:
bản tâm thanh tịnh,
hay: tâm bình thường.


THA THỨ.
Một thiền sinh hỏi:
“Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, người yêu con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để hết oán hờn và thù ghét đây?”

Vị sư phụ đáp:
“Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ”.

Vài hôm sau, người đệ tử trở lại:
“Con đã học được tha thứ cho họ sư phụ ạ. Thật nhẹ cả người! Coi như xong!”

Sư phụ đáp:
“Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra thương yêu họ”.

Người đệ tử gải đầu:
“Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương yêu họ thì… Thôi được, con sẽ làm”

Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn, khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình.

Sư phụ gật gù bảo:
“Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy”.

Người đệ tử trở lại, lần nầy tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở.
Anh tuyên bố:
“Con đã học được và ghi ơn hết mọi người đã cho con cơ hội học được sự tha thứ!”

Sư phụ cười:
“Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ.”



SUY NGẪM:

Câu chuyện thật ý nghĩa, chúng ta có thể nhận ra rằng tha thứ giúp cho chúng ta đóng lại những đau thương, bất công trong quá khứ và nhìn nhận các sự việc rõ ràng để buông xuống.

Tha thứ giúp cho chúng ta mở rộng lòng yêu thương, giúp cho ta nhìn lại chính mình đã làm hao phí năng lượng khi đánh mất lòng khoan dung.

Tha thứ chính là một tiến trình tiến hóa tích cực của nội tâm, khi chúng ta thật sự đối diện và buông xuống những đau thương, mất mát, bất công… chúng ta sẽ không còn mang lòng oán hận, giận dữ…
từ đó giúp cho chúng ta không nuôi dưỡng những niềm cay đắng, phẫn uất, trả thù…
để rồi tạo thêm những điều bất thiện ở hiện tại và tương lai lại phải nhận sự khổ đau.

Qua đó, chúng ta nhận rõ tha thứ giúp cho chúng ta sống an ổn hiện tại và tương lai.
Vì vậy, có thể nói rằng “tha thứ cho người khác chính là tha thứ cho chính mình”,
vì khi chúng ta buông bỏ lòng thù hận, sẽ giúp cho tâm mình luôn bình an.
Tâm bình an sẽ là chất liệu để tạo dựng nên lòng yêu thương từ bi cho mình và cho tất cả.

Đọc và suy ngẫm câu chuyện một lần nữa, chúng ta thấy rõ như một trình tự khi bạn biết tha thứ , bạn sẽ có lại tình thương với những đối tượng đã gây cho mình đau khổ mà bấy lâu mình đánh mất vì thiếu lòng khoan dung , hiện khởi Tâm Từ Bi rộng lớn, nhớ ơn tất cả đã cho chúng ta sự thành tựu này và chợt nhận ra rằng

 “vạn pháp vốn bình đẳng”.

Trên bước đường tu tập của người con Phật, chúng ta phải cảm ơn những bậc thiện hữu tri thức đã đưa đến cho mình nghịch duyên để chúng ta có cơ hội nâng cao đời sống tâm linh của chính mình.
Nghịch tăng thượng duyên là vậy! 
Thật vậy, nếu lúc nào cũng thuận duyên, cũng đều được quí mến thì ta dễ dàng bị ru ngủ trong niềm tự hào, hãnh diện , ta đang biến mình thành nô lệ cho sự cống cao ngã mạn… tự đánh mất chính mình lúc nào không hay.
Vì vậy, vị Sư đã dạy người học trò của mình phải biết ghi ơn những người đã đem đến cho mình những phiền não, oan uổng…. để chúng ta có cơ hội nhìn lại chính mình, thực hành và chuyển hóa nội tâm, để nhận chân sự thật
 “chẳng có ai là người tha thứ và được tha thứ cả!”

Với tôi, việc học cách tha thứ và hành theo những lời dạy của Chư Phật, Chư Tổ không phải đơn giản và dễ dàng nhưng cũng không phải là quá khó nếu mình muốn và tôi đã bắt đầu cho những sự việc nhỏ nhất từ trong cuộc sống của chính mình với mọi người xung quanh…để có được sự bình an hạnh phúc chân thật!

Cổ Đức có câu này:
Càng buông bỏ dưới chân này.
Ấy là chỗ đứng càng ngày càng cao.

Tha thứ hay không tha thứ là lối suy nghĩ nhị biên.
Con người thường sống trong thế giới nhị biên nên thường phiền não và khổ đau.
Thế giới nhị biên là sự suy nghĩ: thị/phi, đúng/sai, phải/quấy, tốt/xấu, trắng/đen.
Người nào đạt được "thế giới bất nhị" hay hiểu được và hành được "pháp môn bất nhị"
người đó đạt an lạc và hạnh phúc, xa hơn, người đó đạt được "giác ngộ và giải thoát".

TỲ KHƯU THÍCH CHÂN TUỆ 
BBT PHẬT HỌC TỊNH QUANG CANADA



SUY NGẪM VỀ CUỘC SỐNG

Danh vọng, uy quyền, nhan sắc, thời cuộc, tâm tư, như bóng mặt trời đang lên, rồi sẽ khuất dần nơi chân trời. Mọi chuyện trên đời đều biến chuyển, đều đổi thay, không có gì tồn tại vĩnh viễn, vĩnh cửu. 

Cũng như vọng tâm của con người thay đổi từng phút giây, tùy theo cảnh trần bên ngoài tác động, nay thương mai ghét, nay thân mai thù. Tu theo Phật - cốt tủy Phật giáo không phải chỉ là các hình thức cúng kiến lễ lạy phức tạp đượm màu mê tín - chính là trong cuộc sống hàng ngày, giữa các đợt sóng vọng tâm nổi lên không ngừng, thương ghét thân thù, con người phải nhận ra chính mình có chân tâm thường hằng không biến đổi theo cảnh trần bên ngoài. 

Chân tâm này ai cũng có - không phân biệt tôn giáo, xuất xứ - chỉ khi nào tâm bình lặng, không sóng gió, con người mới nhận ra.Chân tâm đưa con người lên cảnh giới niết bàn, an vui, tịch tĩnh.Vọng tâm kéo con người vào cảnh giới đọa lạc, phiền não, khổ đau.Muốn dẹp vọng tâm, con người cần tìm hiểu lời Phật dạy, áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Vọng tâm ngày càng ít đi, con đường tu tập ngày càng sáng tỏ, trí tuệ khai mở, phiền não khổ đau không còn nữa, con người hưởng được đời sống an nhiên tự tại hiện tiền. Tuy nhiên, con người cần phải nổ lực, phải tự lực, tinh tấn tiến tu, chứ không phải van xin cầu khẩn mà được đâu.

Ví như mặt biển đầy sóng gió (vọng tâm nổi lên), không ai nhận ra mặt biển bao la bát ngát như khi thái bình (chân tâm).Ví như mặt trời luôn sáng tỏ (chân tâm sáng suốt) nhưng bị nhiều đám mây đen che khuất (vọng tâm mê mờ), nên con người chẳng nhận ra được.

 BAN BIÊN-TẬP PHTQ.CANADA


Kính mời quí vị tham khảo thêm các bài viết liên quan:

CỐT TỦY CỦA ĐẠO PHẬT
ĐƯỜNG LỐI TU THEO PHẬT
TÌM VỀ NGUỒN AN LẠC GIẢI THOÁT
PHẬT GIÁO PHẢI CHĂNG LÀ MỘT TÔN GIÁO
HÌNH THỨC CÚNG KIẾN TRONG PHẬT GIÁO
HẠNH PHÚC Ở ĐÂU?
THẾ NÀO ĐƯỢC GỌI LÀ TU
http://www.phtq-canada.blogspot.ca/2012/11/nao-uoc-goi-la-tu.html


VP.PHTQ.CANADA đang chuẩn bị nội dung Tập san PHTQ.24 (Tết Nguyên Đán Giáp Ngọ 2014)
Văn-Phòng Phật-Học Tịnh-Quang Canada ấn tống và phát hành miễn phí Tập san Từ Bi & Trí Tuệ, 
3 số mỗi năm, vào các dịp sau:
        Tết Nguyên Đán,
        Đại Lễ Phật Đản,
        Đại Lễ Vu Lan.

Tập san được phát hành hoàn toàn miễn phí (FREE) tại Toronto, Montréal, Hamilton, Brampton, Misissauga, Vancouver, Vaughan (Canada) và New York, Sterling, Houston, Anaheim, Seattle, Tucson, Katy, Garland, Stafford, Annandale, Lawrenceville, Arlington, San Jose, Evansville, Grand Junction, Lake Wood, Wichita, Wilmington, Watauga (USA) Adelaide, Brisbane, Canberra, Darwin, Perth, Melbourne, Sydney (Australia) Paris (France) Augsburg, Lunen (Germany) Georges Henri (Bruxelles).


Quí vị thiện hữu, phát tâm góp bài, đóng góp ý kiến, khởi tâm bảo trợ, hùn phước ấn tống, cúng dường tịnh tài, tùy duyên thỉnh sách, qua thư bưu điện
xin gửi cước phí 
$20/quyển, 
hoan hỷ liên lạc:

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ,
 108 - 123 Railroad St., Brampton, ON, L6X-1G9. Canada.
Tel: 647-828-1016.
 Email: cutranlacdao@yahoo.com

Trân trọng thông báo,
Ban Biên-Tập
PHẬT-HỌC TỊNH-QUANG CANADA

Kính mời viếng thăm
http://phtq-canada.chuaphat.com/
http://lotus-lantern-canada.blogspot.com/